.Liên hệ : Ngọc Hoàng - 0936061812 - ngochoangct@yahoo.com

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Cây Gỗ Sưa

Cây Gỗ Sưa

Phân tích DNA Dalbergia Tonkinensis Prain (tập đoàn cây gỗ Sưa) bằng chỉ thị RAPD và chỉ thị ISSR
Cây gỗ Sưa: Dalbergia Tonkinensis Prain thuộc chi Dalbergia, họ đậu Fabaceae.
Ghi nhận trong Danh lục đỏ Việt Nam và được Chính phủ Việt Nam quy định trong nhóm IA của Nghị định 32/2006/NĐ-CP là loài đặc biệt quý hiếm, có nguy cơ đe doạ tuyệt chủng. Nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại.
Cây gỗ sưa đỏ đến tuổi khai thác
Cây gỗ sưa đỏ đến tuổi khai thác
Cây gỗ sưa đang bị khai thác quá mức vì vậy việc bảo tồn cây này đang là việc làm cấp thiết.
Trước đây, việc đánh giá đa dạng di truyền các loài cây gỗ thường sử dụng chỉ thị hình thái. Tuy nhiên, độ chính xác không cao nên có nhiều hạn chế.
Ngày nay, Công nghệ Sinh học đã khắc phục được những nhược điểm của chỉ thị hình thái và đưa ra hàng loạt các chỉ thị phân tử: (RFLP, AFLP, RAPD, ISSR …) để đánh giá đa dạng di truyền.
Chỉ thị RAPD (Random Amplified Polymorphic DNA) và ISSR (Inter Simple Sequence Repeat) tương đối đơn giản, dễ thực hiện nên được sử dụng phổ biến và rộng rãi.
Vân cây gỗ sưa đỏ ở tuổi thu hoạch
Vân cây gỗ sưa đỏ ở tuổi thu hoạch
Mục đích:
Xem xét, đánh giá mối quan hệ di truyền giữa các giống trong tập đoàn cây gỗ Sưa
Làm cơ sở cho công tác bảo tồn và tái tạo nguồn gen quý hiếm này.
Phương pháp nghiên cứu:
1.Tách chiết DNA tổng số từ cây gỗ sưa
DNA cây gỗ sưa được tách chiết dựa theo quy trình CTAB của Doyle và Doyle, 1987
DNA cây gỗ sưa tổng số sẽ được xác định hàm lượng và độ sạch
Điện di kiểm tra DNA cây gỗ sưa trên gel agarose 0,9%
Xác định hàm lượng và độ sạch của DNA cây gỗ sưa bằng quang phổ kế
2. Phương pháp phân tích tính đa hình DNA cây gỗ sưa dựa trên phản ứng PCR
Thành phần và chu kì nhiệt của phản ứng PCR – RAPD dựa theo nghiên cứu của William và cộng sự, 1990
Thành phần và chu kì nhiệt của phản ứng PCR – ISSR dựa theo nghiên cứu của Zeitkiewic và cộng sự, 1994
Phương pháp phân tích số liệu:
Số liệu được phân tích trong phần mềm NTSYSpc2.0
Hàm lượng thông tin tính đa hình (Polymorphism Information Content = PIC) của mỗi chỉ thị được xách định theo công thức của Saa và Wricke (1999).
PICi = 1 – ∑Pij2
Trong đó Pij là tần số alen thứ j của kiểu gen i được kiểm tra. Phạm vi giá trị PIC từ 0 (không đa hình) tới 1 (đa hình hoàn toàn).
Chỉ thị OPP08
Chỉ thị OPP08
 Chỉ thị OPP19
Chỉ thị OPP19
Chỉ thị IS15
Chỉ thị IS15
Kết quả tách chiết DNA tổng số từ 35 mẫu lá cây gỗ sưa 
Kết quả phân tích tính đa dạng DNA của 35 mẫu cây gỗ sưa với 7 chỉ thị RAPD và 10 chỉ thị ISSR
Lõi cây gỗ sưa đỏ là phần có giá trị kinh tế cao nhất
Lõi cây gỗ sưa đỏ là phần có giá trị kinh tế cao nhất
  • Mối quan hệ di truyền giữa 35 mẫu cây gỗ sưa với 7 chỉ thị RAPD và 10 chỉ thị ISSR
  • Chỉ thị RAPD và chỉ thị ISSR có hiệu quả trong việc sử dụng phân tích tính đa hình DNA tập đoàn cây gỗ Sưa.
  • Tính đa hình DNA giữa các mẫu nghiên cứu thấp với giá trị PIC dao động từ 0 đến 0,496.
  • Hệ số tương đồng giữa các mẫu nghiên cứu cao, dao động từ 0,8 đến 0,978.
  • Biểu đồ hình cây của 35 nghiên cứu đã phân ra làm 02 nhánh chính rõ ràng có mức độ sai khác di truyền từ 2,2% đến 15,2%. Những mẫu có cùng địa điểm thu thập có xu hướng tập trung vào các nhánh phụ.
Nhóm nghiên cứu
Cây gỗ sưa là tên gọi khác của “Cây Sưa”
Ngoài ra Cây Sưa còn có một số tên gọi khác như: Cây Sưa Đỏ, Gỗ Sưa, Huỳnh Đàn, Trắc Thối, Huê mộc vàng…
Chúng tôi cung cấp giống cây sưa theo yêu cầu của khách hàng, hỗ trợ vận chuyển đối với đơn hàng lớn.
Cây sưa đỏ được nhân giống trong ống nghiệm [thử nghiệm]
Cây sưa đỏ được nhân giống trong ống nghiệm [thử nghiệm]
Chúng tôi đảm bảo số lượng và chất lượng cây sưa giống đến tận tay khách hàng.
Ưu tiên các đơn hàng cung cấp cho các đơn vị trồng rừng số lượng lớn.
Giá cả hợp lý, tương xứng với giá trị cây sưa đỏ giống.
Chúng tôi chỉ cung cấp 1 giống cây Sưa đỏ, nên quý vị yên tâm, không có lẫn lộn giống nào khác.
Trồng cây gỗ sưa thành rừng hoặc trồng xen với cây ăn trái cho thu nhập cao
Trồng cây gỗ sưa thành rừng hoặc trồng xen với cây ăn trái cho thu nhập cao

Lợi ích của rừng, cây ngoài rừng và nông lâm kết hợp

Trên toàn thế giới, hàng triệu người sống phụ thuộc vào rừng và cây ngoài rừng cho vấn đề an ninh lương thực và dinh dưỡng – trực tiếp thông qua việc tiêu thụ và bán các loại thực phẩm khai thác từ rừng và cây bên ngoài rừng, và gián tiếp thông qua các công việc có liên quan đến rừng, các dịch vụ sinh thái rừng, và đa dạng sinh học dựa vào rừng.
Thực phẩm rừng và các sản phẩm của cây, chẳng hạn như lá, các loại hạt, mật ong, trái cây, nấm, côn trùng và động vật, đã trở thành thành phần quan trọng của chế độ ăn ở nông thôn trong nhiều thiên niên kỷ. Nhiều loại cây thuốc được tìm thấy trong rừng giúp cho sức khỏe và an sinh của người dân phụ thuộc vào rừng và tạo thành cơ sở của nhiều dược phẩm hiện nay được sản xuất trên toàn cầu. Rừng và cây ngoài rừng là nguồn thức ăn quan trọng cho gia súc, đặc biệt là ở vùng đất khô cằn. Ngoài ra, sự đa dạng di truyền trong các khu rừng tự nhiên cung cấp tiềm năng to lớn cho việc phát hiện, phát triển và cải thiện nguồn thức ăn mới và các loại thuốc.
Nhiều loài sinh vật rừng, bao gồm cả thực vật và côn trùng, có tiềm năng to lớn để sản xuất thực phẩm ở quy mô lớn. Nhiều loại thực phẩm rừng và sản phẩm của cây có giá trị dinh dưỡng rất cao.
Các dịch vụ sinh thái được cung cấp bởi rừng và cây ngoài rừng có những đóng góp quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp và cộng đồng phụ thuộc vào rừng, chẳng hạn như bảo vệ tài nguyên đất và nước, góp phần vào quá trình phát triển đất, tăng độ phì của đất, điều hòa khí hậu và cung cấp môi trường sống cho các loài thụ phấn tự nhiên và loài săn sâu bọ nông nghiệp.
Vùng đất ngập nước có rừng và rừng ngập mặn giúp bảo vệ vùng ven biển khỏi lũ lụt, do đó làm tăng sự ổn định của sản xuất lương thực trên vùng đất ven biển. Rừng cũng đóng vai trò quan trọng trong ngành thủy sản ven sông và ven biển, thường đặc biệt quan trọng ở các cộng đồng nghèo. Rừng núi cung cấp các dịch vụ sinh thái cần thiết, chẳng hạn như cung cấp nước chất lượng cao cho các cộng đồng ở hạ nguồn và các hoạt động nông nghiệp.
Rừng và cây ngoài rừng là nguồn thức ăn và thu nhập quan trọng, đặc biệt cho người nghèo và phụ nữ, và có thể là giải pháp trong thời điểm khủng hoảng kinh tế, chính trị, sinh thái. Sự hiện diện của rừng và cây ngoài rừng làm tăng khả năng phục hồi hệ sinh thái và khả năng của người dân để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng.
Ước tính có khoảng 2,6 tỷ người sử dụng nhiên liệu từ gỗ, bao gồm cả than, cho nấu ăn. Việc sử dụng gỗ như một nguồn năng lượng quan trọng cho nền kinh tế địa phương và để tối đa hóa sự hấp dẫn và giá trị dinh dưỡng của thức ăn.
Một loạt các hệ thống nông lâm kết hợp, bao gồm các hệ thống agro-sylvo-pastoral, có sẵn để hỗ trợ an ninh lương thực và dinh dưỡng thông qua việc cung cấp thức ăn trực tiếp, bằng cách tăng thu nhập cho nông dân và cung cấp nhiên liệu để nấu ăn, bằng cách cải thiện đất và do đó làm tăng năng suất nông nghiệp, và thông qua việc cung cấp các dịch vụ sinh thái khác.
Người dân bản địa và cộng đồng địa phương khác nắm giữ một số lượng lớn kiến ​​thức truyền thống về trồng trọt, thu hoạch và chuẩn bị thức ăn từ rừng, các sản phẩm từ cây và quản lý đất đai bền vững. Cảnh quan nông – lâm nghiệp truyền thống có xu hướng phục hồi cao khi đối mặt với nhiễu loạn môi trường và xã hội.

Nguồn: FAO